Xã Đường Lâm hiện nay không phải một ‘làng cổ’ | Văn hóa

Không thể dùng từ “làng” để gọi xã Đường Lâm hiện nay

Trước năm 1945, nếu phải dùng xã hoặc thôn trong các quan hệ chính thức với chính quyền, thì trong cuộc sống hằng ngày, người Việt thường dùng từ làng vì nó có thêm một chút gì thân thương, tình cảm, hay nói như nhà dân tộc học quá cố Nguyễn Từ Chi, “cảm xúc” (émotionnel)1. Từ “làng” được dùng để chỉ các xã chỉ có một thôn (tức “nhất xã nhất thôn”) và các thôn thuộc vào một xã khi chúng có một bản sắc riêng (chẳng hạn có đình và một số tập tục riêng như hai thôn của xã Mông Phụ là Mông Phụ và Phụ Khang (thuộc xã Đường Lâm).

Sau năm 1945, chính quyền cách mạng đã lập ra xã (mới), tương đương với tổng thời xưa gồm nhiều xã (cũ) nay đều được gọi là thôn. Chẳng hạn xã (mới) Ðường Lâm hiện nay là hóa thân của tổng Cam Thịnh (tức tổng Cam Giá Thịnh trước năm 1928): hiện nay, Đường Lâm gồm cả thảy 9 thôn. Cũng như thời xưa, hiện nay mọi người đều gọi một cách thân thương 9 thôn ấy là 9 làng. Do đó, ta không thể dùng từ làng để gọi xã (mới) Đường Lâm; nếu không sẽ có sự lẫn lộn giữa làng = xã (mới) = tổng thời xưa với làng = xã (cũ) = thôn (hiện nay).

Cũng nên nói thêm rằng, do việc chính quyền cách mạng lập ra xã mới, khi gặp từ xã, lắm khi ta không biết đó là xã (cũ) trước 1945 (thành phần của tổng) hay là xã hiện nay (tương đương với tổng gồm nhiều thôn hay làng). Để tránh lẫn lộn, phải chăng nên gọi xã mới là tổng như trước Cách mạng tháng Tám?


Xã Đường Lâm hiện nay không phải một “làng cổ”

Một ngôi nhà xưa ở thôn
Mông Phụ (thuộc xã Đường Lâm)

Dùng từ “làng” cho thực chính xác

Trước hết là vì, như vừa trình bày trên đây, ta không thể dùng từ làng để gọi xã (mới) Đường Lâm.

Lý do thứ hai: Trong số 9 thôn thuộc Đường Lâm hiện nay có 5 thôn thực sự là những làng cổ: Cam Thịnh, Cam Lâm, Ðoài Giáp, Ðông Sàng và Mông Phụ. 4 thôn kia thì tương đối mới: vào nửa đầu thế kỷ 19, Phụ Khang là một xóm biệt lập của Mông Phụ; vốn là xóm cũ của Ðông Sàng và Cam Thịnh, 2 làng Hà Tân và Hưng Thịnh được biến thành thôn cách đây khoảng 30 – 40 mươi năm; còn Văn Miếu thì mới tách ra từ Mông Phụ cách đây chưa đến mươi năm.

Phải chăng để dùng từ “làng” cho thực chính xác, ta có thể dùng cụm từ “quần thể làng cổ Đường Lâm” hay “(các) làng cổ ở Đường Lâm”?

Về tên Đường Lâm

Hiện nay, dường như hầu hết các sử gia ở Việt Nam đều theo quan điểm của một số sử gia thuộc triều Nguyễn – như Nguyễn Văn Siêu (1795 – 1872), cho rằng địa danh Đường Lâm, quê hương của hai vị anh hùng dân tộc Phùng Hưng và Ngô Quyền, là tên của làng Cam Lâm (甘霖 mưa dầm dịu) hiện nay (vốn có tên là Cam Tuyền (甘泉 tức suối ngọt) được đổi tên vào năm Thiệu Trị thứ hai (1842), vì “tuyền” (泉) là một trong ba chữ húy thời Thiệu Trị 2), chứ không phải là tên huyện như đã được ghi trong nhiều sử liệu của Việt Nam và Trung Quốc.

Cũng nên nói thêm rằng tổng Cam Giá Hạ (-> tổng Cam Giá Thịnh -> tổng Cam Thịnh ->xã Đường Lâm), cùng với tổng Cam Giá Thượng (-> tổng Cam Thượng -> xã Cam Thượng) láng giềng, chắc là hai hóa thân của giáp Cam Giá vào đời Lý: thật vậy, theo Đại Việt sử ký toàn thư (I: tr. 247), năm 1117, “người giáp Cam Giá dâng hươu đen” cho vua Lý Nhân Tông (Đường Lâm thuộc vùng “bán sơn địa”, khá gần núi Ba Vì). Như ta biết, từ Hán – Việt 甘蔗 cam giá có nghĩa là “cây mía”, xưa kia vốn được trồng rất nhiều ở vùng này, nên “mía” thành tên nôm của nó trong nhiều thành ngữ như “phố Mía” (tức phố Tân Hội nay không còn nữa), “chùa Mía” (tức chùa Sùng Nghiêm ở Đông Sàng), “chợ Mía” (chợ Đông Sàng), “gà Mía”, “bà chúa Mía”… Trước hậu bán thế kỷ 15, có lẽ giáp Cam Giá nói trên đã chia thành Cam Giá Thượng (tức xã Cam Thượng hiện nay) và Cam Giá Hạ (sẽ lần lượt đổi thành Cam Giá Thịnh, Cam Thịnh, rồi thành xã Đường Lâm). Tóm lại, ít ra là từ thế kỷ 12 cho mãi đến ngày 21.11.1964 (khi xã Phùng Hưng được chính thức đổi thành xã Đường Lâm), các “tiền thân” của tất cả các làng thuộc xã Đường Lâm hiện nay dường như chưa bao giờ có tên được tạo với hai từ tố “đường 唐” và “lâm 林”!

(1) Le village traditionnel au Vietnam, Hà Nội, NXB Thế Giới, 1993
(2) Xem Ngô Đức Thọ, Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Hà Nội, NXB Văn hóa, 1997, tr. 141 – 142.




Nguồn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

%d bloggers like this: