Hồi ức về người bạn đời của giáo sư Tôn Thất Tùng

Hà NộiGiáo sư Tôn Thất Tùng từng là Giám đốc Bệnh viện Việt Đức nên có xe hơi đưa đón, còn bạn đời của ông, bà Vi Thị Nguyệt Hồ, làm cùng cơ quan nhưng hàng ngày đi làm bằng xe đạp cũ, bất kể nắng mưa.

Chiều 13/12, bà Vi Thị Nguyệt Hồ, Chủ tịch Hội Điều dưỡng đầu tiên của Việt Nam qua đời, hưởng thọ 94 tuổi.

Hôm sau, GS. TS Đặng Hanh Đệ, 86 tuổi, nguyên trưởng Khoa Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, cùng vợ ngồi xem lại những tấm hình và kỷ vật cũ về bà Vi Thị Nguyệt Hồ. Ông Đệ được ví là “bàn tay vàng” trong phẫu thuật tim mạch, vừa học trò của Giáo sư Tôn Thất Tùng, vừa là đồng nghiệp của bà Hồ. Vợ ông, bà Lê Lan Phương, 82 tuổi là bác sĩ gây mê, công tác tại bệnh viện, cũng là người bạn lâu năm. Suốt một tháng bà Hồ ốm, hai vợ chồng thường xuyên lui tới để thăm hỏi.

Nghe tin bà Hồ qua đời, vợ chồng bác sĩ Đặng Hanh Đệ cho biết dù chuẩn bị tinh thần, song vẫn bàng hoàng. “Bà Hồ rời khỏi thế giới này theo luật tử sinh cõi thế, nhưng nỗi đau và khoảng trống này không thể lấp đầy”, ông Đệ vừa lau nước mắt, vừa nói.

Vào thập niên 1960, khi bắt đầu phụ mổ cho giáo sư Tùng tại Bệnh viện Việt Đức, ông Đệ nhớ hình ảnh bà Hồ đi làm bằng chiếc xe đạp cũ, bất kể ngày mưa hay nắng. Còn thầy Tùng là lãnh đạo bệnh viện nên lúc nào cũng có xe hơi đưa đón, song bà chỉ đi cùng xe với chồng trong những dịp đặc biệt. Mỗi trưa, bà ăn cơm độn hạt cùng với mọi người, “tuyệt nhiên không bao giờ nhắc đến chồng hay thể hiện mình là vợ giám đốc”.

“Là vợ một nhà khoa học đầu ngành, được trọng vọng và kính nể, nhưng bà luôn khiêm tốn, nhẹ nhàng, vẫn có cuộc sống riêng, chứ không chỉ sống trên danh nghĩa là vợ của cố giáo sư Tùng”, ông Đệ nói.





[Caption].    ;;;;;

Bà Vi Thị Nguyệt Hồ qua đời chiều 13/12, hưởng thọ 94 tuổi. Ảnh: Viên Hồng Quang

Trái ngược với bà, “thầy Tùng là người khó tính, ai sai sót sẽ bị mắng thậm tệ”, bác sĩ Đệ nói. Nhiều lúc không hài lòng trong cuộc mổ, đặc biệt khi xảy ra chảy máu, mặt thầy đỏ gay, hai mắt nhìm chằm chằm, thậm chí vứt luôn dụng cụ mổ ra phía sau mà không quan tâm có rơi vào đầu ai, nên các bác sĩ rất sợ phụ mổ.

Đặt biệt, thầy Tùng là người cẩn thận, chú ý từng đường kim, mũi chỉ, luôn nhận định thương tổn có thể xảy ra trong cuộc mổ, từ đó chủ động, nếu xảy ra biến chứng thì sẽ phải làm gì. “Thầy vẫn nói là xếp thành ô trong đầu, chỉ việc rút ô đó ra là có cách giải quyết”, ông Đệ chia sẻ và thêm rằng, chính vì sự cẩn trọng đó nên giáo sư Tùng chỉ yên tâm khi mọi việc đã được y tá Nguyệt Hồ “tổng duyệt”.

Thời điểm này, công việc của y tá – điều dưỡng không được xem trọng dù là người kề cận với người bệnh hơn cả bác sĩ. Những năm đầu sau Giải phóng thủ đô, bệnh viện cũng thiếu thốn đủ thứ. Tuy nhiên, bà Hồ chưa bao giờ để cuộc mổ gián đoạn vì thiếu dụng cụ.

“Bất kỳ cuộc mổ nào có bà, mọi người gần như không phải lo nghĩ, chỉ việc phẫu thuật”, bà Phương nói, thêm rằng thời gian đầu, bà Hồ tự đưa dụng cụ cho thầy Tùng, sau đó hướng dẫn cho y tá mới thực hiện. Bà luôn căn dặn mọi người phải nắm tình trạng bệnh nhân để xử trí khi có bất thường, đồng thời tìm hiểu ý thích của phẫu thuật viên thì cuộc mổ mới thuận lợi.

Còn theo PGS.TS Nguyễn Tiến Quyết, nguyên giám đốc Bệnh viện Việt Đức, bà Hồ là trợ thủ đắc lực cho thầy Tùng trong các ca mổ. Bà vừa làm kỹ thuật viên gây mê, vừa quán xuyên công việc, hỗ trợ cho chồng. Câu nói ông nhớ nhất về bà là “người thầy thuốc phải có tâm, hiểu và hết lòng với bệnh nhân”. Bởi vậy, khi 50 tuổi, bà Hồ vẫn tham gia điều trị, chăm sóc bệnh nhân. Năm 90 tuổi, mọi người vẫn tin tưởng bỏ phiếu để bà tiếp tục làm Chủ tịch Hội điều dưỡng.

Trước đó, vào những năm 1980, với mong muốn tập hợp và đoàn kết lực lượng điều dưỡng cả nước, bà Hồ cùng một số người đã khởi xướng xin phép thành lập Hội Y tá – Điều dưỡng Việt Nam. Bà cùng các đồng nghiệp tổ chức nhiều cuộc họp, nhiều hội thảo, gặp nhiều cá nhân lãnh đạo của Bộ Y tế (cố GS.VS Phạm Song, cố GS Hoàng Đình Cầu..), Ban Tổ chức và Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội Vụ) để tiếp cận xin phép và truyền thông về sự cần thiết thành lập hội. Sau hàng loạt những nỗ lực của cá nhân bà Hồ và nhóm khởi xướng, ngày 26/10/1990, Chính phủ đã cho phép thành lập Hội Y tá – Điều dưỡng Việt Nam.

Sau này bà được tập thể lãnh đạo hội suy tôn là hình mẫu cho người điều dưỡng, được trao tặng nhiều danh hiệu và giải thưởng như Vì sự tiến bộ của Điều dưỡng Việt Nam (2020), Thầy thuốc Ưu tú, Trí thức tiêu biểu của Tổng Hội Y học Việt Nam (2019), Giải thưởng quốc tế “Cống hiến trọn đời” của Hiệp hội Quản lý bệnh viện Châu Á (2016).





Bác sĩ Đặng Hanh Đệ và vợ (ngoài cùng bên trái) chụp ảnh cùng bà Hồ (ở giữa) hồi tháng 10/2022. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Bác sĩ Đặng Hanh Đệ và vợ (ngoài cùng bên trái) chụp ảnh cùng bà Hồ (ở giữa) hồi tháng 10/2022. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Ngoài công việc, bà Hồ được nhớ đến với vai trò người vợ, người mẹ – hậu phương của hai cây đại thụ trong ngành Y khoa là giáo sư Tôn Thất Tùng và Phó giáo sư Tôn Thất Bách. Đây là lý do bà chọn nghề điều dưỡng – thay vì học bác sĩ, để chồng, con yên tâm hoàn thành nhiệm vụ cứu người.

Cuộc đời bà có hai nỗi đau không gì bù đắp đó là mất chồng, mất con. Bác sĩ Đệ nhớ lại, ngày 7/5/1982, giáo sư Tùng lên cơn nhồi máu cơ tim. Khi đến nhà, bà Hồ đang hà hơi hô hấp nhân tạo trên giường cho thầy. Bà liên tục khóc, nói “anh Tùng bị ngừng tim rồi”. Theo phản xạ, một bác sĩ ra đầu giường đặt nội khí quản bóp bóng, bác sĩ Đệ quỳ lên trên giường bóp tim ngoài lồng ngực, còn bà Hồ bẻ ống thuốc để tiêm cho chồng, không ai nói với ai câu gì. Một lúc sau bà Hồ nói: “Hơi thở có mùi acidose rồi, không còn hy vọng nữa đâu” nhưng mọi người vẫn tiếp tục cấp cứu. Đến khi đường điện tim là một đường thẳng, tất cả mới dừng lại.

22 năm sau, năm 2004, Phó giáo sư Tôn Thất Bách – người đã kế nghiệp ông cũng mất vì nhồi máu cơ tim trong một chuyến đi công tác xa. “Cú sốc quá lớn, tưởng như bà Hồ ngã quỵ”, bà Phương nói. “Dao sắc không gọt được chuôi”, từ đó bà sống lặng lẽ, thu mình hơn.

Sinh thời, bà Hồ kể, cứ đến ngày giỗ, bà đạp xe đi ra nghĩa trang Mai Dịch một tháng hai lần để thắp hương cho chồng và con trai. Thói quen đó bắt đầu từ khi ông Tùng mất. Gần đây, khi sức khỏe yếu hơn, bà thuê xe taxi riêng cứ hàng tuần đến đón.

Mỗi ngày, bà đều đặn thắp hương buổi sáng và tối. Với bà, góc bàn thờ trở thành nơi lưu giữ di ảnh quý, để thành kính tưởng niệm những người thân yêu đã mất. Bà vẫn giữ nguyên mọi đồ đạc, kỷ vật, sách vở của chồng trong phòng khách, như sự hiện diện hàng ngày của ông trong đời sống của bà. Mỗi năm cứ đến ngày sinh nhật chồng, căn phòng chưa đến 12 m2 này lại tấp nập người quen là những học trò, người bạn cũ và bệnh nhân đến chúc mừng.

“Bởi vậy, khi bà Hồ mất, mọi người tuy tiếc thương vẫn cầu phúc và mong hai cụ sớm gặp lại nhau. Cả hai đều đã sống một cuộc đời đáng sống, trọn vẹn, không còn gì tiếc nuối”, bác sĩ Phương chia sẻ.

Anh Viên Hồng Quang, một biên tập viên ảnh được tiếp xúc thường xuyên với bà Hồ hai năm cuối đời, cũng cảm phục tình yêu của bà dành cho người chồng đã mất. 40 năm qua, bà Hồ đều pha một cốc cà phê nâu đặt lên bàn làm việc của chồng mỗi sáng – như thói quen của ông lúc sinh thời. Hàng ngày, bà vẫn đọc sách để trí óc minh mẫn và tự làm các công việc vệ sinh cá nhân. Trong ký ức của anh, bà có nụ cười rất đẹp, nhẹ nhàng, hiền lành, khiêm tốn.

Còn với đồng nghiệp, bà là người phụ nữ cởi mở, độc lập, mạnh mẽ. “Bởi vậy, khi bà mất, mọi người nhớ về bà là một y tá Vi Nguyệt Hồ chứ không chỉ là vợ của Giáo sư Tôn Thất Tùng”, anh Quang nói.

Lễ viếng cụ bà Vi Thị Nguyệt Hồ được tổ chức vào lúc 10h45, thứ năm, ngày 15/12 tại Nhà Tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông. Lễ Truy điệu và đưa tang vào hồi 11h45 cùng ngày.





[Caption]...

Cuộc gặp gỡ của bà Hồ với sinh viện Trường Đại học Y Hà Nội đầu tháng 11/2022. Ảnh: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y Hà Nội

Bà Vi Thị Nguyệt Hồ (1929-2022) sinh ra trong gia đình quý tộc, là cháu nội của Tổng đốc Vi Văn Định, thông thạo cả tiếng Pháp và Anh. Bà kết hôn với giáo sư Tùng khi tuổi đời còn rất trẻ, sau đó làm việc tại Bệnh viện Việt Đức. Trong kháng chiến chống Pháp, bà đã từng tham gia Hồng Thập tự, tham gia cứu chữa nhiều thương bệnh binh tại chiến khu Việt Bắc.

Giáo sư Tôn Thất Tùng là bác sĩ, nhà khoa học và nhà phẫu thuật nổi tiếng của Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực gan và giải phẫu. Ông là người đầu tiên nghiên cứu thành công phương pháp “cắt gan có kế hoạch”, còn được gọi là “phương pháp cắt gan khô”, “phương pháp Tôn Thất Tùng”. Sau này, ông có nhiều cống hiến cho ngành y học Việt Nam trên cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại khoa (Đại học Y Hà Nội), Giám đốc Bệnh viện Việt – Đức, Thứ trưởng Y tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông là người thầy đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ tài năng cho ngành y học nước nhà.

Giáo sư Tôn Thất Tùng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, viện sĩ Viện hàn lâm Y học Liên Xô, viện sĩ Viện hàn lâm Phẫu thuật Paris, hội viên Hội các nhà phẫu thuật Lyon (Pháp),…

Thùy An – Lê Nga

Nguồn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *